- Thực hiện Kế hoạch số 415/KH-BV ngày14/4/2026 của Bệnh viện Y dược cổ truyền Kiên Giang về triển khai Ngày Sức khỏe toàn dân (07/4) năm 2026.

- Hưởng ứng ngày sức khỏe toàn dân (7/4),phòng Điều dưỡng gửi thông điệp đến toàn thể nhân dân:


BÀI TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE

BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP


I. KHÁI NIỆM:

Bệnh tăng huyết áp là “kẻ giết người thầm lặng”, là nguyên nhân chính gây tai biến mạch máu não,nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận... có thể gây tử vong hay tàn phế suốt đời cho người bệnh. Theo Cục Y tế dự phòng, hiện nay Việt Nam có khoảng 12 triệu người bị tăng huyết áp, tức là cứ trong 5 người trưởng thành thì có 1 người mắc, trong đó gần 60% chưa được phát hiện và trên 80% chưa được điều trị. Tăng huyết áp có yếu tố nguy cơ từ các hành vi như dinh dưỡng không hợp lý, thiếu hoạt động thể lực, hút thuốc và lạm dụng rượu bia.

Theo quy ước Tổ chức Y tế thế giới, ở người trưởng thành gọi là tăng huyết áp(THA) khi: Huyết áp tâm thu>=140mmHg, Huyếtáp tâm trương >=90mmHg (với ít nhất hai lần khám khác nhau, mỗi lần đo Huyết áp ít nhất ở hai thời điểm khác nhau).

 

II. NGUYÊN NHÂN:

        - Tăng huyết áp nguyên phát: Là dạng huyết áp không tìm thấy nguyên nhân, chiếm gần 90%. Người ta xem đó là bệnh đa yếu tố,trong đó có sự tương tác giữa yếu tố di truyền môi trường.

        - Tăng huyết áp thứ phát: Dù chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng việc xác định nguyên nhân là quan trọng vì có thể điều trị khỏi cho người bệnh.

Các nguyên nhân tăng huyết áp có thể xếp thành các nhóm chính:

        +Nguyên nhân ở tim mạch: Do hẹp eo động mạch chủ

        +Nguyên nhân do thận: Suy thận mạn, hẹp động mạch thận, thận đa nang…

        + Nguyên nhân nội tiết: Cường giáp, u tuỷ thượng thận, hội chứng cushing…

        +Tăng huyết áp do dùng thuốc: Corticoid, thuốc ngừa thai, các loại thuốc nhỏ mũi

        + Các nguyên nhân khác: Tăng huyết áp thai kỳ, bệnh đa hồng cầu…

 


III. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG THƯỜNG GẶP:

Triệu chứng lâm sàng của tăng huyết áp rất khác nhau và các triệu chứng này thường không đặc hiệu. Phần lớn người bệnh được phát hiện tăng huyết áp trong dịp thăm khám sức khoẻ định kỳ hoặc đến khám vì những bệnh lý khác, tăng huyết áp thường không có triệu chứng, đa số phát hiện tình cờ. Những triệu chứng biểu hiện có thể do tăng huyết áp:

+ Nhức đầu hoặc cảm giác nặng đầu thường ở vùng chẩm vào buổi sáng.

+ Ruồi bay trước mặt hay có cảm giác mây mù trước mắt.

+ Kiến bò, vọp bẻ, mất cảm giác ngón tay.

+ Tiểu nhiều lần nhất là về đêm.

+ Chóng mặt.

+ Đôi khi có cảm giác khó thở.

-Ở người trẻ thường có biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật như hồi hộp, tim đập mạnh, giảm khả năng tư duy và khả năng hoạt động tình dục.

IV. DINH DƯỠNG, PHÒNG NGỪA:

Để phòng ngừa bệnh tăng huyết áp cần thực hiện các biện pháp sau:

1.Dinh dưỡng: Thực hiện chế độ ăn uống hợp lý

- Ăn hạn chế muối: Nếu ăn mặn sẽ gây tăng huyết áp, nên ăn nhạt vừa phải, lượng muối cần đủ trong chế độ ăn uống cho bệnh nhân tăng huyết áp trong một ngày <6 gam (kể cả muối trong thức ăn). vì vậy chỉ nên bổ sung thêm một thìa cà phê muối ăn/ngày là đủ/

-Bỏ rượu, thuốc lá, tránh căng thẳng, nên nghỉ ngơi tránh bị stress.

-Nếu có bị béo phì thì nên giảm trọng lượng, ăn hạn chế chất bột đường, giảm lượng calo đưa vào, không nên ăn quá nhiều trứng, đồ chiên xào, mỡ động vật, các tạng động vật, ăn dầu ăn thay mỡ


 

-Nên ăn các loại thức ăn sau: cá, hải sản, rau xanh, trái cây,đậu xanh quả, các loại đậu hạt, măng, các loại ngũ cốc thô như: gạo lứt, các loại đậu… Vì chất xơ có trong rau quả có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm hạ huyết áp. Mỗi ngày nên ăn khoảng 55 – 85g các chế phẩm từ sữa như pho mát,sữa chua… Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật, các loại dầu thực vật, dầu cá và một số hạt có chất béo như: hạt mè, hạt hướng dương, hạt hạnh nhân.

 

- Nên ăn thức ăn giàu kali có nhiều trong rau quả như khoai và đậu đỗ, rau dền, dưa chuột, bắp cải, súp lơ, su hào, cà rốt, xà lách, giá đỗ, cải xoong, cà chua,cam, mận, dưa hấu…

-Thức ăn nhiều canxi: sữa tách bơ và các chế phẩm sữa là nguồn cung cấp canxi.

-Thức ăn thịt có chứa ít chất béo như thịt bò nạc, thịt gà nạc, thịt thăn lợn, cá, đậu

 

Bên cạnh đó cần thực hiện giảm cân ở người thừa cân hoặc béo phì: Tăng cân trong thời gian dài là yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng tăng huyết áp. Nguy cơ này tăng dần ở phụ nữ cao tuổi, sau mãn kinh. Những người béo phì, bụng to cũng có nhiều khả năng bị tăng huyết áp. Kiểm soát cân nặng , cần duy trì cân nặng ở mức hợp lý

 

Tăng cường hoạt động thể lực: Tích cực vận động thể lực mức vừa phải ít nhất 30 phút mỗi ngày,150 phút/tuần( đi bộ nhanh).

Bỏ thói quen xấu: Không  hút thuốc, hạn chế bia, rượu là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh tăng huyết áp và các bệnh tim mạch. Không thức khuya, làm việc quá căng thẳng, ngủ ít nhất 7 giờ/ngày và đúng giờ. Nên tự tạo cho bản thân một cuộc sống hài hòa vui vẻ.

Chủ động kiểm tra huyết áp của mình, không đợi đến lúc có triệu chứng cơ năng mới đo huyết áp. Nếu biết bệnh, phòng ngừa điều trị tốt thì giảm các biến cố tim mạch. Nhất là với gia đình có tiền sử cao huyết áp, con cái cũng cần chú ý, kiểm tra huyết áp từ sớm theo định kỳ.

2. Phòng ngừa:

Tăng cường sự hiểu biết của người bệnh

-Giúp người bệnh hiểu được tăng huyết áp là gì, hậu quả của tăng huyết áp, lợi ích của việc kiểm soát  huyết áp và biện pháp kiểm tra huyết áp một cách hiệu quả.

-Việc điều trị huyết áp phải thường xuyên và lâu dài, nên chính bản thân người bệnh có vai trò quan trọng trong việc phối hợp với thầy thuốc để kiểm soát huyết áp của mình, đồng thời cung cấp cho người bệnh một số thông tin về thuốc điều trị tăng huyết áp như: hiệu quả, tác dụng phụ, có thể gặp và cách hạn chế tác dụng phụ có thể xảy ra giúp người bệnh hiểu được Nguyên tắc "Vàng" trong điều trị : 3 Đúng (Đúng thuốc, Đủ liều, Đều đặn)

 

-Hướng dẫn người bệnh biện pháp thay đổi lối sống và tầm quan trọng của nó trong việc kiểm soát huyết áp như: giảm cân thừa, giảm ăn muối, hoạt động thể lực vừa sức, chế độ ăn nhiều trái cây, rau xanh, ít mỡ, hạn chế đồ uống có cồn, ngừng hút thuốc lá…

 

 

- Sau khi ra viện người bệnh thường xuyên theo dõi huyết áp để điều chỉnh thuốc, khám sức khoẻ định kỳ kịp thời phát hiện các hậu quả của tăng huyết áp để điều trị kịp thời. Hướng dẫn người bệnh cách tự đo huyết áp và khuyến khích họ tự đo huyết áp tại nhà.

 


                                                                                   Lữ Thị Nhật-Phòng Điều dưỡng

 

Số lượt truy cập:

Trực tuyến: