Rối loạn nuốt ở người bệnh sau đột quỵ

Đừng xem nhẹ một dấu hiệu tưởng chừng đơn giản

Rối loạn nuốt là một vấn đề rất thường gặp ở người bệnh đột quỵ, người cao tuổi và người có bệnh lý thần kinh. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi đã xuất hiện biến chứng viêm phổi hít, suy dinh dưỡng hoặc suy kiệt. Chính vì vậy, nhận biết sớm rối loạn nuốt và chăm sóc đúng cách có ý nghĩa rất quan trọng trong điều trị và phục hồi cho người bệnh.

Rối loạn nuốt là gì?

Nuốt là một hoạt động rất phức tạp, đưa thức ăn, nước uống, thuốc hoặc nước bọt từ miệng xuống dạ dày.Quá trình này cần sự phối hợp chính xác giữa khoang miệng, hầu, thanh quản, thực quản cùng hệ thần kinh và hệ cơ. Khi một trong các khâu này hoạt động không hiệu quả, người bệnh có thể xuất hiện rối loạn nuốt. Nói cách khác, rối loạn nuốt là tình trạng khó khăn ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình nuốt, làm ảnh hưởng đến khả năng ăn uống an toàn và tự chủ.

 

 

Đây không chỉ là chuyện“ăn hay bị nghẹn”. Rối loạn nuốt có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hô hấp, dinh dưỡng,quá trình phục hồi chức năng và chất lượng sống của người bệnh. Nếu bỏ sót, hậu quả có thể rất nghiêm trọng.

Vì sao cần đặc biệt quan tâm?

Ở người bệnh đột quỵ, rối loạn nuốt xuất hiện khá sớm và gặp với tần suất cao. Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai trên 951 người bệnh đột quỵ cấp ghi nhận tỷ lệ rối loạn nuốt lên tới 71,6%;trong đó có 30,8% trường hợp cần nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày. Một nghiên cứu khác tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2021 tỷ lệ rối loạn nuốt sau đột quỵ là khoảng 33% đến 81%. Sự khác biệt giữa các tỷ lệ này nhìn chung là tương tự nhau tùy thời điểm đánh giá và công cụ sàng lọc, nhưng điểm chung là đây là biến chứng không hiếm gặp.

Điều đáng lo ngại là rối loạn nuốt không chỉ làm người bệnh ăn uống khó khăn mà còn làm tăng nguy cơ viêm phổi do hít sặc. Tài liệu nghiên cứu cho thấy người bệnh đột quỵ có rối loạn nuốt có nguy cơ viêm phổi cao hơn rõ rệt so với người không rối loạn nuốt. Biến chứng hô hấp gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất, có thể đe dọa tính mạng. Bên cạnh đó, suy dinh dưỡng và mất nước cũng là những biến chứng rất thường gặp, có thể gặp ở khoảng 16–40% người bệnh mắc rối loạn nuốt.

Không dừng lại ở đó, rối loạn nuốt còn làm kéo dài thời gian nằm viện, tăng gánh nặng chăm sóc, ảnh hưởng tâm lý, làm người bệnh e ngại ăn uống và giảm chất lượng cuộc sống. Với người bệnh sau đột quỵ, đây còn là một yếu tố cản trở quá trình phục hồi chức năng.

Những dấu hiệu không nên bỏ qua

Dấu hiệu của rối loạn nuốt có thể biểu hiện rất khác nhau, tùy theo giai đoạn mà có triệu chứng lâm sàng khác biệt.

Ở giai đoạn miệng, người bệnh có thể nhai kém, khó há miệng, khó tạo viên thức ăn, làm rơi vãi thức ăn,chảy nước dãi hoặc còn tồn đọng thức ăn trong khoang miệng sau khi ăn. Ở giai đoạn hầu và thực quản, người bệnh thường có biểu hiện ho, sặc, nghẹn, nuốt đau,nuốt vướng, cảm giác thức ăn mắc lại sau nuốt hoặc thay đổi giọng nói sau ăn như giọng khàn, giọng ướt.

Trong nghiên cứu tại Bạch Mai, ở nhóm rối loạn nuốt nặng, triệu chứng thường gặp nhất là ho và/hoặc không thể làm sạch khoang miệng chủ động. Ngoài ra, chảy nước dãi, khó nuốt nước bọt và thay đổi giọng nói cũng là những biểu hiện cần lưu ý.

Một điều quan trọng là không phải trường hợp nào cũng biểu hiện rầm rộ. Có người chỉ ăn chậm hơn, ngại ăn, hay mệt khi ăn, hoặc chỉ ho nhẹ sau uống nước. Những dấu hiệu nhỏ này đôi khi lại là tín hiệu cảnh báo sớm của rối loạn nuốt.

“Sặc im lặng” – mối nguy rất dễ bị bỏ sót

Trong thực hành lâm sàng,một trong những tình trạng đáng lo ngại nhất là Sặc im lặng”.Đây là hiện tượng thức ăn, nước uống hoặc nước bọt đi vào đường thở nhưng không kích hoạt phản xạ ho rõ ràng. Vì không có biểu hiện rầm rộ, người chăm sóc và thậm chí chính người bệnh rất dễ không nhận ra.

Sặc im lặng thường gặp ở người có tổn thương thần kinh như đột quỵ, sa sút trí tuệ, chấn thương sọ não hoặc khi phản xạ ho bị suy yếu. Một số dấu hiệu gợi ý gồm giọng nói ướt sau ăn uống, sốt không rõ nguyên nhân, viêm phổi tái diễn, tăng nhịp thở trong bữa ăn, chảy nước mắt khi ăn, sụt cân hoặc suy dinh dưỡng. Khi nghi ngờ,người bệnh cần được đánh giá chuyên sâu bởi các chuyên gia Âm ngữ trị liệu hoặc bằng các phương pháp như Nội soi ống mềm (FEES); X quang động (VFSS) theo chỉ định chuyên môn.

Ai là nhóm nguy cơ cao?

Rối loạn nuốt có thể gặp ở nhiều nhóm người bệnh, nhưng nguy cơ cao nhất là người sau đột quỵ, người mắc Parkinson, sa sút trí tuệ, bại não, chấn thương sọ não, bệnh thần kinh cơ, người lớn tuổi, người có ung thư vùng hầu họng hoặc bệnh hô hấp mạn tính như COPD.

Các nghiên cứu trong nước cho thấy nguy cơ rối loạn nuốt tăng rõ ở người cao tuổi. Tại Bệnh viện Bạch Mai, rối loạn nuốt liên quan có ý nghĩa với các nhóm tuổi cao hơn, đặc biệt ở nhóm trên 70 tuổi; ngoài ra còn liên quan với tổn thương thân não, rối loạn giao tiếp và liệt mặt. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cũng ghi nhận người trên 75 tuổi có nguy cơ rối loạn nuốt cao hơn, đồng thời những người có tiền sử đột quỵ hoặc tổn thương não diện rộng cũng dễ gặp tình trạng này hơn.

Chăm sóc đúng cách giúp giảm biến chứng

Với người bệnh có nguy cơ hoặc đã được xác định rối loạn nuốt, chăm sóc đúng cách đóng vai trò rất quan trọng.

Trước hết là vệ sinh răng miệng. Khoang miệng sạch giúp giảm lượng vi khuẩn, hạn chế nguy cơ viêm phổi hít và cải thiện cảm giác ăn uống. Đây là bước đơn giản nhưng thường bị xem nhẹ trong quá trình chăm sóc hằng ngày.

Tiếp theo là tư thế an toàn khi ăn. Người bệnh nên ngồi vững, thân mình thẳng, cổ hơi gập, chân có điểm tựa chắc chắn. Nếu ăn trên giường, cần nâng cao đầu giường và giúp người bệnh giữ tư thế ổn định. Tư thế đúng giúp cải thiện chức năng nuốt và giảm nguy cơ hít sặc.

  

Hình:Tư thế an toàn khi ăn cho người mắc rối loạn nuốt

Khi cho người bệnh ăn,cần cho ăn chậm, từng muỗng nhỏ, tránh thúc ép hoặc cho ăn quá nhanh. Không nên để người bệnh vừa ăn vừa nói chuyện nhiều, mất tập trung hoặc ngửa cổ ra sau khi nuốt. Người chăm sóc cần quan sát kỹ các dấu hiệu như ho, nghẹn, đổi giọng,chảy nước mắt hoặc mệt trong bữa ăn để kịp thời dừng lại và báo nhân viên y tế.

Một nguyên tắc rất quan trọng khác là điều chỉnh độ đặc của thức ăn và đồ uống phù hợp với khả năng nuốt. Tài liệu chuyên đề giới thiệu hệ thống IDDSI hệ thống chuẩn,phân loại thức ăn từ loãng hoàn toàn đến mềm dễ nhai. Việc lựa chọn đúng độ đặc giúp người bệnh nuốt an toàn hơn và hạn chế nguy cơ sặc.

Ngoài ra, một số bài tập vùng má, môi và lưỡi có thể hỗ trợ tăng sức cơ, cải thiện khả năng kiểm soát viên thức ăn và hỗ trợ chức năng nuốt, nhất là ở giai đoạn miệng. Việc tập luyện cần được hướng dẫn bởi nhân viên y tế hoặc chuyên viên phục hồi chức năng để phù hợp với từng người bệnh. Theo dõi bằng nhật ký ăn uống cũng là cách hữu ích giúp ghi nhận loại thức ăn, lượng ăn và các biểu hiện bất thường sau ăn để điều chỉnh chăm sóc kịp thời.

 

 

 

Hình:Các bài tập vận động hỗ trợ người mắc rối loạn nuốt

 

Hình 5:Nhật ký ăn uống dành cho người mắc rối loạn nuốt

Phát hiện sớm để bảo vệ người bệnh

Rối loạn nuốt là biến chứng thường gặp nhưng hoàn toàn có thể nhận biết sớm và can thiệp kịp thời. Với người bệnh đột quỵ, người cao tuổi hoặc người có bệnh lý thần kinh, việc sàng lọc sớm trước khi cho ăn uống đường miệng là rất cần thiết. Phát hiện đúng, chăm sóc đúng và theo dõi sát sẽ giúp giảm nguy cơ hít sặc, viêm phổi, suy dinh dưỡng, đồng thời cải thiện hiệu quả điều trị và chất lượng sống cho người bệnh.

 

Hình:6 bước hướng dẫn chăm sóc người mắc rối loạn nuốt

                                                                                                           Trường Giang-Phòng KHTH-CNTT

 

Số lượt truy cập:

Trực tuyến: